Thư viện số CYQ » Tài liệu Thư viện số » Uống Thuốc Chống Trầm Cảm Có Hại Không? Có Gây Nghiện Không?
(162)
(3)
(0)
(0)
(0)
(24)
(4469)
(2)
Thuốc chống trầm cảm phổ biến nhất là nhóm thuốc SNRI. Tuy nhiên vẫn còn nhiều nhóm thuốc khác cho thấy lợi ích vượt trội trong điều trị bệnh trầm cảm. Trong bài viết này, xin gửi đến bạn đọc những thông tin chi tiết về thuốc chống trầm cảm.
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến. Ước tính, có khoảng 5% người trưởng thành trên thế giới mắc chứng rối loạn này. Trầm cảm đặc trưng bởi trạng thái buồn rầu dai dẳng và thiếu hứng thú với các hoạt động hoặc sự việc xung quanh. Thống kê cho thấy, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng khuyết tật trên toàn thế giới và góp phần lớn vào gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
Nguyên nhân của trầm cảm bao gồm các tương tác phức tạp giữa các yếu tố xã hội, tâm lý và sinh học. Trầm cảm cần được điều trị bằng cả phương pháp tâm lý và dược lý. Tuy nhiên, ở những quốc gia có thu nhập thấp, có tới 75% những người bị rối loạn tâm thần ở không được điều trị.
Các loại thuốc chống trầm cảm khá đa dạng và có nhiều cơ chế tác dụng khác nhau. Nhưng nhìn chung, các thuốc đều hướng tới lợi ích đầu tiên là cải thiện giấc ngủ, sau đó là hướng tới cải thiện về tâm sinh lý cho bệnh nhân.
Các nhóm thuốc chống trầm cảm chính bao gồm: thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCA), chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), chất ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrine có chọn lọc (SNRI) và chất ức chế monoamine oxidase (MAOI). Ngoài ra còn có một số thuốc chống trầm cảm không điển khác.
TCA có hiệu quả tương tự như SSRI, nhưng việc có quá nhiều các tác dụng phụ khiến bệnh nhân có xu hướng không tuân thủ hoặc ngừng điều trị sớm. TCA cũng độc hơn khi dùng quá liều so với SSRI. Các thuốc MAOI có tương tác nguy hiểm với một số loại thực phẩm và thuốc, nên cần được sử dụng thận trọng với sự giám sát của chuyên gia y tế. .
Các thuốc nhóm TCA hoạt động bằng cách ngăn chặn quá trình tái hấp thu serotonin và noradrenalin, với các mức độ khác nhau. Ví dụ, clomipramine có tác dụng chọn lọc tái hấp thu serotonin hơn, reboxetine và lofepramine có tác dụng tái hấp thu chọn lọc trên Noradrenaline hơn.
Bằng chứng chỉ ra rằng thuốc chống trầm cảm ba vòng chứa amin bậc 2, bao gồm cả desipramine HCl, có thể có hoạt tính mạnh hơn trong việc ngăn chặn tái hấp thu norepinephrine. Bên cạnh đó, thuốc chống trầm cảm ba vòng chứa amin bậc ba, chẳng hạn như amitriptyline, có thể có tác dụng chọn lọc hơn đối với việc tái hấp thu serotonin.
Ngoài ra, TCA có thể ức chế thụ thể của muscarinic M1, histamin H1 và alpha-adrenergic.

Về cơ bản, có thể chia nhóm thuốc chống trầm cảm ba vòng thành 2 loại:
Mặc dù hiệu quả, nhưng các thuốc TCA vẫn tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ. Vì thế, một số thuốc trên đã được thay thế bằng thuốc chống trầm cảm mới hơn và thường gây ra ít tác dụng phụ hơn. Ở liều thấp hơn, thuốc chống trầm cảm ba vòng được sử dụng để ngăn ngừa chứng đau nửa đầu, đau thần kinh và một số tình trạng rối loạn khác. Cụ thể các thuốc chống trầm cảm nhóm TCA bao gồm:
SSRI là loại thuốc chống trầm cảm được kê toa phổ biến nhất và là một trong những lựa chọn đầu tiên để điều trị chứng trầm cảm. Đó là bởi tình trạng rối loạn bài tiết serotonin đóng vai trò quan trọng trong bệnh trầm cảm. Và các thuốc này hoạt động bằng cách làm giảm quá trình tái hấp thu serotonin giúp tăng hiệu quả dẫn truyền thần kinh trong não.
Các thuốc nhóm SSRI có hiệu quả cao và thường được dung nạp tốt hơn so với các loại thuốc thuộc nhóm chống trầm cảm khác. Tuy nhiên cần thận trọng khi kê đơn SSRI cùng với các loại thuốc khác vì chúng có thể gây ra các tương tác nghiêm trọng. Ngoài ra, không nên sử dụng SSRI ở bệnh nhân có biểu hiện động kinh hoặc đang ở giai đoạn hưng cảm. SSRI tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ và có thể dẫn đến hội chứng serotonin.
.jpg)
Cụ thể các thuốc thuộc nhóm SSRI:
Nếu người bệnh không đáp ứng với điều trị ban đầu bằng SSRI có thể cần tăng liều hoặc chuyển sang các nhóm thuốc điều trị trầm cảm khác. Các lựa chọn hàng thứ hai sau khi thất bại với SSRI bao gồm lofepramine, moclobemide và reboxetine.
Các thuốc SNRI giúp tăng mức serotonin và norepinephrine trong não để làm giảm các triệu chứng của trầm cảm. Lưu ý: không sử dụng thuốc nhóm SNRI ít nhất 14 ngày sau khi ngừng sử dụng các thuốc IMAO và không sử dụng IMAO ít nhất 7 ngày sau khi ngừng SNRI

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của các thuốc nhóm SNRI là buồn nôn, chóng mặt và đổ mồ hôi. Các tác dụng phụ khác bao gồm mệt mỏi, táo bón, mất ngủ, lo lắng, nhức đầu và chán ăn. Ngoài ra, Duloxetine và Milnacipran không nên dùng cho những bệnh nhân mắc bệnh tăng nhãn áp góc hẹp hoặc góc đóng không kiểm soát được.
Các thuốc nhóm MAOI có tác dụng ngăn chặn hoạt động của monoamine oxidase, một loại enzyme phân hủy norepinephrine, serotonin và dopamine trong não và các bộ phận khác của cơ thể.
MAOIs cho thấy lợi ích khi sử dụng cho bệnh nhân mắc chứng ám ảnh sợ hãi và bệnh nhân trầm cảm với các đặc điểm không điển hình,… Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm hạ huyết áp tư thế, tăng cân và tác dụng phụ về tình dục.
So với các loại thuốc khác, như TCA và SSRI, các thuốc nhóm MAOI không được sử dụng thường xuyên vì nguy cơ xảy ra tương tác giữa thuốc và thức ăn. Vì vậy, hiện nay các thuốc nhóm MAOI đã được thay thế bằng các thuốc chống trầm cảm mới an toàn hơn và ít tác dụng phụ hơn.
Các thuốc nhóm MAOI được chia thành 2 loại:
Những thuốc trầm cảm này được gọi là không điển hình vì chúng có các cơ chế hoạt động riêng, không giống với bất kỳ loại thuốc trầm cảm nào khác. Tuy nhiên, chúng đều có một mục đích chung là ảnh hưởng đến mức độ hoặc tác dụng của của dopamine, serotonin và norepinephrine trong não.
Các thuốc chống trầm cảm không điển hình bao gồm:

Tác dụng phụ của các thuốc chống trầm cảm không điển hình cũng rất đa dạng. Một số tác dụng phụ bao thường gặp bao gồm khô miệng, táo bón, chóng mặt và choáng váng.
Hầu hết các loại thuốc chống trầm cảm nói chung là an toàn, nhưng Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) yêu cầu tất cả các loại thuốc chống trầm cảm đều phải kèm theo những cảnh báo nghiêm ngặt trong quá trình sử dụng. Trong một số trường hợp, trẻ em, thanh thiếu niên và thanh niên dưới 25 tuổi có thể gia tăng suy nghĩ hoặc hành vi tự tử khi dùng thuốc chống trầm cảm, đặc biệt là trong vài tuần đầu sau khi bắt đầu hoặc khi thay đổi liều lượng.
Bất cứ ai dùng thuốc chống trầm cảm nên được theo dõi chặt chẽ để phát hiện tình trạng trầm cảm nặng hơn hoặc hành vi bất thường. Nếu bạn hoặc ai đó mà bạn biết có ý định tự tử khi dùng thuốc chống trầm cảm, hãy liên hệ ngay với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bạn hoặc nhận trợ giúp khẩn cấp.
Hãy nhớ rằng thuốc chống trầm cảm có nhiều khả năng làm giảm nguy cơ tự tử về lâu dài bằng cách cải thiện tâm trạng. [2]
Việc sử dụng thuốc chống trầm cảm, bao gồm cả thuốc chống trầm cảm nhẹ và thuốc trầm cảm nặng, điều tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ với người sử dụng, nhất là khi sử dụng trong thời gian dài. Vì thế, nhiều bệnh nhân lo lắng và có nhiều thắc mắc trong quá trình điều trị.
Thông thường, bệnh nhân có thể bắt đầu cảm nhận được công dụng của thuốc chống trầm cảm sau 1-2 tuần sử dụng, với điều kiện họ tuân thủ điều trị tốt. Tuy nhiên, có một số bệnh nhân có niềm tin rằng thuốc không có tác dụng dẫn đến việc tuân thủ điều trị kém hoặc ngừng dùng thuốc.
Điều quan trọng là phải dùng thuốc đúng như đơn bác sĩ đã kê vì khả năng dung nạp thuốc ở mỗi người là khác nhau. Nếu sau 4 tuần điều trị, bệnh nhân không có bất kỳ tiến triển nào thì hãy trao đổi lại với bác sĩ để có biện pháp giải quyết.
Thông thường, một liệu trình điều trị trầm cảm với thuốc sẽ kéo dài ít nhất 6 tháng. Trong nhiều trường hợp bệnh trầm cảm có thể được điều trị khỏi hoàn toàn và bệnh nhân có thể không phải uống thuốc nữa.
Tuy nhiên, đối với các bệnh nhân mắc trầm cảm nặng hoặc người bị trầm cảm trên 45 tuổi, có thể phải duy trì uống thuốc trầm cảm suốt đời. Nếu không uống thuốc một ngày, các triệu chứng mất ngủ, bồn chồn, mệt mỏi… sẽ xuất hiện tức thì. Ngoài ra, việc tuân thủ điều trị và tái khám định kỳ giúp kiểm soát tốt bệnh trầm cảm. [3]
Đây là điều mà mọi người rất lo lắng khi dùng thuốc chống trầm cảm vì nghĩ chúng ảnh hưởng tới thần kinh và việc phải liên tục sử dụng thuốc trong một thời gian dài. Ngoài ra, với các thuốc nhóm SSRI và SNRI thì việc ngừng thuốc đột ngột có thể gây ra một số triệu chứng như kích thích, rối loạn giấc ngủ, bồn chồn,… Tuy nhiên, đây không phải là biểu hiện của nghiện thuốc và thuốc trầm cảm không gây nghiện.
Các triệu chứng trên là biểu hiện của việc dừng thuốc đột ngột khiến cơ thể chưa kịp thích nghi. Đối với một số loại thuốc chống trầm cảm cần giảm liều một cách từ từ trước khi ngừng thuốc.
Bệnh nhân không nên quá lo lắng về việc phải dùng kéo dài, bởi vì như vậy mới đủ đáp ứng hiệu quả điều trị. Trường hợp một số người ngừng thuốc có biểu hiện tái phát trầm cảm có thể là do chính bản thân người đó có nguy cơ mắc lại bệnh chứ không phải do nghiện thuốc mà gây ra tái phát trầm cảm. Điều này bạn cần hiểu rõ, nếu tái phát thì bệnh có thể nặng hơn và cần dùng liều thuốc cao hơn mới kiểm soát bệnh chứ không có nghĩa là bị quen hay nghiện thuốc.Trên thực tế, nhiều bệnh nhân mắc trầm cảm đã phải dùng thuốc trong nhiều năm, thậm chí là suốt đời. Tuy nhiên, nếu đáp ứng với điều trị tốt, liều lượng thuốc cần sử dụng có thể giảm cần và tiến tới ngừng thuốc.

Bất kỳ loại thuốc nào sử dụng để điều trị cũng kèm theo các tác dụng không mong muốn, đương nhiên thuốc trầm cảm cũng vậy. Tuy nhiên, dựa trên cân nhắc giữa lợi ích mà thuốc mang lại so với tác hại của thuốc thì người bệnh vẫn cần sử dụng thuốc. Bằng chứng là nhiều người mắc trầm cảm có thể tự làm hại bản thân, thậm chí đã có ý định hoặc hành vi tự tử. Vì thế, việc sử dụng thuốc là cần thiết.
Trong quá trình điều trị bằng thuốc chống trầm cảm, bệnh nhân có thể gặp phải một số tác dụng phụ, bao gồm:
Các tác dụng phụ trên có thể giảm dần theo thời gian trong quá trình dùng thuốc. Ngoài ra, một số rủi ro tiềm ẩn về sức khỏe mà nhiều người quan tâm khi sử dụng thuốc chống trầm cảm bao gồm [5]:
Hội chứng serotonin xảy ra khi mức độ của chất dẫn truyền thầnh kinh serotonin trong não của bệnh nhân trở nên quá cao. Nó thường liên quan đến các thuốc nhóm SSRI và SNRI hoặckhi dùng kết hợp với một loại thuốc (hoặc chất) khác cũng làm tăng mức serotonin. Hội chứng serotonin thường không phổ biến nhưng có khả năng diễn biến nghiêm trọng.
Các triệu chứng của hội chứng serotonin có thể bao gồm: lú lẫn, kích động, co giật cơ bắp, đổ mồ hôi, rùng mình, bệnh tiêu chảy,… Đôi khi, bệnh nhân có thể gặp phải các triệu chứng nặng như: co giật,loạn nhịp tim, hôn mê,…
Người cao tuổi dùng thuốc chống trầm cảm, đặc biệt là những người dùng SSRI, có thể bị giảm nồng độ natri (muối) nghiêm trọng, được gọi là hạ natri máu. Điều này có thể dẫn đến tình trạng tích tụ chất lỏng bên trong các tế bào của cơ thể và có thể gây nguy hiểm.
Hạ natri máu có thể xảy ra vì SSRI có thể ngăn chặn tác dụng của một loại hormone có khả năng điều chỉnh lượng natri và chất lỏng trong cơ thể. Tình trạng này ảnh hưởng nhiều hơn đến đối tượng là người cao tuổi.
Hạ natri máu nhẹ có thể gây ra các triệu chứng tương tự như trầm cảm hoặc tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm, chẳng hạn như: cảm thấy mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, chán ăn, lú lẫn,… Ngoài ra hạ natri máu nghiêm trọng hơn có thể gây ra: cảm thấy bơ phờ và mệt mỏi, mất phương hướng, kích động, rối loạn tâm thần, co giật,… Các trường hợp hạ natri máu nghiêm trọng nhất có thể khiến bệnh nhân ngừng thở hoặc hôn mê .
Việc sử dụng SSRI và TCA lâu dài có liên quan đến việc tăng nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2, mặc dù không rõ liệu việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm này có trực tiếp gây ra bệnh tiểu đường hay không. Một số chuyên gia cho biết, có thể tình trạng tăng cân ở một số người sử dụng thuốc chống trầm cảm làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2.
Trong một số ít trường hợp, một số bệnh nhân có ý nghĩ tự tử và hành vi tự làm hại bản thân khi lần đầu tiên dùng thuốc chống trầm cảm. Đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên dưới 25 tuổi.
Để dùng thuốc chống trầm cảm một an toàn và hiệu quả bạn cần lưu ý những điều sau:
Tóm lại, các thuốc chống trầm cảm rất đa dạng và mang lại hiệu quả điều trị tốt. Tuy nhiên, việc sử dụng cũng cần thận trọng vì đa số các thuốc đều gây ra các tác dụng không mong muốn làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Lưu ý rằng, người bệnh cần tuân thủ điều trị và tái khám thường xuyên để đảm bảo hiệu quả điều trị.
Thuốc chống trầm cảm phổ biến nhất là nhóm thuốc SNRI. Tuy nhiên vẫn còn nhiều nhóm thuốc khác cho thấy lợi ích vượt trội trong điều trị bệnh trầm cảm. Trong bài viết này, xin gửi đến bạn đọc những thông tin chi tiết về thuốc chống trầm cảm.
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến. Ước tính, có khoảng 5% người trưởng thành trên thế giới mắc chứng rối loạn này. Trầm cảm đặc trưng bởi trạng thái buồn rầu dai dẳng và thiếu hứng thú với các hoạt động hoặc sự việc xung quanh. Thống kê cho thấy, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng khuyết tật trên toàn thế giới và góp phần lớn vào gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
Nguyên nhân của trầm cảm bao gồm các tương tác phức tạp giữa các yếu tố xã hội, tâm lý và sinh học. Trầm cảm cần được điều trị bằng cả phương pháp tâm lý và dược lý. Tuy nhiên, ở những quốc gia có thu nhập thấp, có tới 75% những người bị rối loạn tâm thần ở không được điều trị.
Các loại thuốc chống trầm cảm khá đa dạng và có nhiều cơ chế tác dụng khác nhau. Nhưng nhìn chung, các thuốc đều hướng tới lợi ích đầu tiên là cải thiện giấc ngủ, sau đó là hướng tới cải thiện về tâm sinh lý cho bệnh nhân.
Các nhóm thuốc chống trầm cảm chính bao gồm: thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCA), chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), chất ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrine có chọn lọc (SNRI) và chất ức chế monoamine oxidase (MAOI). Ngoài ra còn có một số thuốc chống trầm cảm không điển khác.
TCA có hiệu quả tương tự như SSRI, nhưng việc có quá nhiều các tác dụng phụ khiến bệnh nhân có xu hướng không tuân thủ hoặc ngừng điều trị sớm. TCA cũng độc hơn khi dùng quá liều so với SSRI. Các thuốc MAOI có tương tác nguy hiểm với một số loại thực phẩm và thuốc, nên cần được sử dụng thận trọng với sự giám sát của chuyên gia y tế. .
Các thuốc nhóm TCA hoạt động bằng cách ngăn chặn quá trình tái hấp thu serotonin và noradrenalin, với các mức độ khác nhau. Ví dụ, clomipramine có tác dụng chọn lọc tái hấp thu serotonin hơn, reboxetine và lofepramine có tác dụng tái hấp thu chọn lọc trên Noradrenaline hơn.
Bằng chứng chỉ ra rằng thuốc chống trầm cảm ba vòng chứa amin bậc 2, bao gồm cả desipramine HCl, có thể có hoạt tính mạnh hơn trong việc ngăn chặn tái hấp thu norepinephrine. Bên cạnh đó, thuốc chống trầm cảm ba vòng chứa amin bậc ba, chẳng hạn như amitriptyline, có thể có tác dụng chọn lọc hơn đối với việc tái hấp thu serotonin.
Ngoài ra, TCA có thể ức chế thụ thể của muscarinic M1, histamin H1 và alpha-adrenergic.

Về cơ bản, có thể chia nhóm thuốc chống trầm cảm ba vòng thành 2 loại:
Mặc dù hiệu quả, nhưng các thuốc TCA vẫn tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ. Vì thế, một số thuốc trên đã được thay thế bằng thuốc chống trầm cảm mới hơn và thường gây ra ít tác dụng phụ hơn. Ở liều thấp hơn, thuốc chống trầm cảm ba vòng được sử dụng để ngăn ngừa chứng đau nửa đầu, đau thần kinh và một số tình trạng rối loạn khác. Cụ thể các thuốc chống trầm cảm nhóm TCA bao gồm:
SSRI là loại thuốc chống trầm cảm được kê toa phổ biến nhất và là một trong những lựa chọn đầu tiên để điều trị chứng trầm cảm. Đó là bởi tình trạng rối loạn bài tiết serotonin đóng vai trò quan trọng trong bệnh trầm cảm. Và các thuốc này hoạt động bằng cách làm giảm quá trình tái hấp thu serotonin giúp tăng hiệu quả dẫn truyền thần kinh trong não.
Các thuốc nhóm SSRI có hiệu quả cao và thường được dung nạp tốt hơn so với các loại thuốc thuộc nhóm chống trầm cảm khác. Tuy nhiên cần thận trọng khi kê đơn SSRI cùng với các loại thuốc khác vì chúng có thể gây ra các tương tác nghiêm trọng. Ngoài ra, không nên sử dụng SSRI ở bệnh nhân có biểu hiện động kinh hoặc đang ở giai đoạn hưng cảm. SSRI tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ và có thể dẫn đến hội chứng serotonin.
.jpg)
Cụ thể các thuốc thuộc nhóm SSRI:
Nếu người bệnh không đáp ứng với điều trị ban đầu bằng SSRI có thể cần tăng liều hoặc chuyển sang các nhóm thuốc điều trị trầm cảm khác. Các lựa chọn hàng thứ hai sau khi thất bại với SSRI bao gồm lofepramine, moclobemide và reboxetine.
Các thuốc SNRI giúp tăng mức serotonin và norepinephrine trong não để làm giảm các triệu chứng của trầm cảm. Lưu ý: không sử dụng thuốc nhóm SNRI ít nhất 14 ngày sau khi ngừng sử dụng các thuốc IMAO và không sử dụng IMAO ít nhất 7 ngày sau khi ngừng SNRI

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của các thuốc nhóm SNRI là buồn nôn, chóng mặt và đổ mồ hôi. Các tác dụng phụ khác bao gồm mệt mỏi, táo bón, mất ngủ, lo lắng, nhức đầu và chán ăn. Ngoài ra, Duloxetine và Milnacipran không nên dùng cho những bệnh nhân mắc bệnh tăng nhãn áp góc hẹp hoặc góc đóng không kiểm soát được.
Các thuốc nhóm MAOI có tác dụng ngăn chặn hoạt động của monoamine oxidase, một loại enzyme phân hủy norepinephrine, serotonin và dopamine trong não và các bộ phận khác của cơ thể.
MAOIs cho thấy lợi ích khi sử dụng cho bệnh nhân mắc chứng ám ảnh sợ hãi và bệnh nhân trầm cảm với các đặc điểm không điển hình,… Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm hạ huyết áp tư thế, tăng cân và tác dụng phụ về tình dục.
So với các loại thuốc khác, như TCA và SSRI, các thuốc nhóm MAOI không được sử dụng thường xuyên vì nguy cơ xảy ra tương tác giữa thuốc và thức ăn. Vì vậy, hiện nay các thuốc nhóm MAOI đã được thay thế bằng các thuốc chống trầm cảm mới an toàn hơn và ít tác dụng phụ hơn.
Các thuốc nhóm MAOI được chia thành 2 loại:
Những thuốc trầm cảm này được gọi là không điển hình vì chúng có các cơ chế hoạt động riêng, không giống với bất kỳ loại thuốc trầm cảm nào khác. Tuy nhiên, chúng đều có một mục đích chung là ảnh hưởng đến mức độ hoặc tác dụng của của dopamine, serotonin và norepinephrine trong não.
Các thuốc chống trầm cảm không điển hình bao gồm:

Tác dụng phụ của các thuốc chống trầm cảm không điển hình cũng rất đa dạng. Một số tác dụng phụ bao thường gặp bao gồm khô miệng, táo bón, chóng mặt và choáng váng.
Hầu hết các loại thuốc chống trầm cảm nói chung là an toàn, nhưng Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) yêu cầu tất cả các loại thuốc chống trầm cảm đều phải kèm theo những cảnh báo nghiêm ngặt trong quá trình sử dụng. Trong một số trường hợp, trẻ em, thanh thiếu niên và thanh niên dưới 25 tuổi có thể gia tăng suy nghĩ hoặc hành vi tự tử khi dùng thuốc chống trầm cảm, đặc biệt là trong vài tuần đầu sau khi bắt đầu hoặc khi thay đổi liều lượng.
Bất cứ ai dùng thuốc chống trầm cảm nên được theo dõi chặt chẽ để phát hiện tình trạng trầm cảm nặng hơn hoặc hành vi bất thường. Nếu bạn hoặc ai đó mà bạn biết có ý định tự tử khi dùng thuốc chống trầm cảm, hãy liên hệ ngay với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bạn hoặc nhận trợ giúp khẩn cấp.
Hãy nhớ rằng thuốc chống trầm cảm có nhiều khả năng làm giảm nguy cơ tự tử về lâu dài bằng cách cải thiện tâm trạng. [2]
Việc sử dụng thuốc chống trầm cảm, bao gồm cả thuốc chống trầm cảm nhẹ và thuốc trầm cảm nặng, điều tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ với người sử dụng, nhất là khi sử dụng trong thời gian dài. Vì thế, nhiều bệnh nhân lo lắng và có nhiều thắc mắc trong quá trình điều trị.
Thông thường, bệnh nhân có thể bắt đầu cảm nhận được công dụng của thuốc chống trầm cảm sau 1-2 tuần sử dụng, với điều kiện họ tuân thủ điều trị tốt. Tuy nhiên, có một số bệnh nhân có niềm tin rằng thuốc không có tác dụng dẫn đến việc tuân thủ điều trị kém hoặc ngừng dùng thuốc.
Điều quan trọng là phải dùng thuốc đúng như đơn bác sĩ đã kê vì khả năng dung nạp thuốc ở mỗi người là khác nhau. Nếu sau 4 tuần điều trị, bệnh nhân không có bất kỳ tiến triển nào thì hãy trao đổi lại với bác sĩ để có biện pháp giải quyết.
Thông thường, một liệu trình điều trị trầm cảm với thuốc sẽ kéo dài ít nhất 6 tháng. Trong nhiều trường hợp bệnh trầm cảm có thể được điều trị khỏi hoàn toàn và bệnh nhân có thể không phải uống thuốc nữa.
Tuy nhiên, đối với các bệnh nhân mắc trầm cảm nặng hoặc người bị trầm cảm trên 45 tuổi, có thể phải duy trì uống thuốc trầm cảm suốt đời. Nếu không uống thuốc một ngày, các triệu chứng mất ngủ, bồn chồn, mệt mỏi… sẽ xuất hiện tức thì. Ngoài ra, việc tuân thủ điều trị và tái khám định kỳ giúp kiểm soát tốt bệnh trầm cảm. [3]
Đây là điều mà mọi người rất lo lắng khi dùng thuốc chống trầm cảm vì nghĩ chúng ảnh hưởng tới thần kinh và việc phải liên tục sử dụng thuốc trong một thời gian dài. Ngoài ra, với các thuốc nhóm SSRI và SNRI thì việc ngừng thuốc đột ngột có thể gây ra một số triệu chứng như kích thích, rối loạn giấc ngủ, bồn chồn,… Tuy nhiên, đây không phải là biểu hiện của nghiện thuốc và thuốc trầm cảm không gây nghiện.
Các triệu chứng trên là biểu hiện của việc dừng thuốc đột ngột khiến cơ thể chưa kịp thích nghi. Đối với một số loại thuốc chống trầm cảm cần giảm liều một cách từ từ trước khi ngừng thuốc.
Bệnh nhân không nên quá lo lắng về việc phải dùng kéo dài, bởi vì như vậy mới đủ đáp ứng hiệu quả điều trị. Trường hợp một số người ngừng thuốc có biểu hiện tái phát trầm cảm có thể là do chính bản thân người đó có nguy cơ mắc lại bệnh chứ không phải do nghiện thuốc mà gây ra tái phát trầm cảm. Điều này bạn cần hiểu rõ, nếu tái phát thì bệnh có thể nặng hơn và cần dùng liều thuốc cao hơn mới kiểm soát bệnh chứ không có nghĩa là bị quen hay nghiện thuốc.Trên thực tế, nhiều bệnh nhân mắc trầm cảm đã phải dùng thuốc trong nhiều năm, thậm chí là suốt đời. Tuy nhiên, nếu đáp ứng với điều trị tốt, liều lượng thuốc cần sử dụng có thể giảm cần và tiến tới ngừng thuốc.

Bất kỳ loại thuốc nào sử dụng để điều trị cũng kèm theo các tác dụng không mong muốn, đương nhiên thuốc trầm cảm cũng vậy. Tuy nhiên, dựa trên cân nhắc giữa lợi ích mà thuốc mang lại so với tác hại của thuốc thì người bệnh vẫn cần sử dụng thuốc. Bằng chứng là nhiều người mắc trầm cảm có thể tự làm hại bản thân, thậm chí đã có ý định hoặc hành vi tự tử. Vì thế, việc sử dụng thuốc là cần thiết.
Trong quá trình điều trị bằng thuốc chống trầm cảm, bệnh nhân có thể gặp phải một số tác dụng phụ, bao gồm:
Các tác dụng phụ trên có thể giảm dần theo thời gian trong quá trình dùng thuốc. Ngoài ra, một số rủi ro tiềm ẩn về sức khỏe mà nhiều người quan tâm khi sử dụng thuốc chống trầm cảm bao gồm [5]:
Hội chứng serotonin xảy ra khi mức độ của chất dẫn truyền thầnh kinh serotonin trong não của bệnh nhân trở nên quá cao. Nó thường liên quan đến các thuốc nhóm SSRI và SNRI hoặckhi dùng kết hợp với một loại thuốc (hoặc chất) khác cũng làm tăng mức serotonin. Hội chứng serotonin thường không phổ biến nhưng có khả năng diễn biến nghiêm trọng.
Các triệu chứng của hội chứng serotonin có thể bao gồm: lú lẫn, kích động, co giật cơ bắp, đổ mồ hôi, rùng mình, bệnh tiêu chảy,… Đôi khi, bệnh nhân có thể gặp phải các triệu chứng nặng như: co giật,loạn nhịp tim, hôn mê,…
Người cao tuổi dùng thuốc chống trầm cảm, đặc biệt là những người dùng SSRI, có thể bị giảm nồng độ natri (muối) nghiêm trọng, được gọi là hạ natri máu. Điều này có thể dẫn đến tình trạng tích tụ chất lỏng bên trong các tế bào của cơ thể và có thể gây nguy hiểm.
Hạ natri máu có thể xảy ra vì SSRI có thể ngăn chặn tác dụng của một loại hormone có khả năng điều chỉnh lượng natri và chất lỏng trong cơ thể. Tình trạng này ảnh hưởng nhiều hơn đến đối tượng là người cao tuổi.
Hạ natri máu nhẹ có thể gây ra các triệu chứng tương tự như trầm cảm hoặc tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm, chẳng hạn như: cảm thấy mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, chán ăn, lú lẫn,… Ngoài ra hạ natri máu nghiêm trọng hơn có thể gây ra: cảm thấy bơ phờ và mệt mỏi, mất phương hướng, kích động, rối loạn tâm thần, co giật,… Các trường hợp hạ natri máu nghiêm trọng nhất có thể khiến bệnh nhân ngừng thở hoặc hôn mê .
Việc sử dụng SSRI và TCA lâu dài có liên quan đến việc tăng nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2, mặc dù không rõ liệu việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm này có trực tiếp gây ra bệnh tiểu đường hay không. Một số chuyên gia cho biết, có thể tình trạng tăng cân ở một số người sử dụng thuốc chống trầm cảm làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2.
Trong một số ít trường hợp, một số bệnh nhân có ý nghĩ tự tử và hành vi tự làm hại bản thân khi lần đầu tiên dùng thuốc chống trầm cảm. Đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên dưới 25 tuổi.
Để dùng thuốc chống trầm cảm một an toàn và hiệu quả bạn cần lưu ý những điều sau:
Tóm lại, các thuốc chống trầm cảm rất đa dạng và mang lại hiệu quả điều trị tốt. Tuy nhiên, việc sử dụng cũng cần thận trọng vì đa số các thuốc đều gây ra các tác dụng không mong muốn làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Lưu ý rằng, người bệnh cần tuân thủ điều trị và tái khám thường xuyên để đảm bảo hiệu quả điều trị.
(162)
(3)
(0)
(0)
(0)
(24)
(4469)
(2)