Thư viện số CYQ » Tài liệu Thư viện số » Hấp Thu Thuốc Là Gì? Các Đường Đưa Thuốc Vào Cơ Thể
(162)
(3)
(0)
(0)
(0)
(24)
(4469)
(2)
Hấp thu thuốc là quá trình đầu tiên xảy ra khi thuốc được đưa vào cơ thể. Nó có thể được thực hiện bởi nhiều con đường đưa thuốc khác nhau. Vậy quá trình đưa thuốc vào cơ thể như thế nào? Hãy cùng Trung Tâm Thuốc Central Pharmacy tìm hiểu qua bài viết sau.
Hấp thu thuốc là quá trình cơ thể tiếp nhận và hấp thu các dược phẩm hoặc chất hoá học từ ngoài vào bên trong cơ thể thông qua các con đường khác nhau. Quá trình hấp thu này giúp chất hoá học hoặc dược phẩm hoạt động trong cơ thể, điều trị bệnh, hoặc có tác dụng khác tùy thuốc và mục đích sử dụng. Quá trình hấp thu thuốc có thể được thực hiện qua các con đường như đường tiêu hóa, đường tiêm, đường hô hấp, đường qua da. [1]
Thuốc được hấp thu qua đường tiêu hóa có thể bằng nhiều cơ chế khác nhau. Tuy nhiên cơ chế hấp thu thuốc phổ biến nhất là khuếch tán thụ động. Quá trình này có thể được giải thích thông qua định luật khuếch tán Fick, trong đó phân tử thuốc di chuyển theo gradient nồng độ từ nồng độ thuốc cao hơn đến nồng độ thấp hơn cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng. Khuếch tán thụ động có thể xảy ra trong môi trường nước hoặc môi trường lipid. Sự khuếch tán nước xảy ra trong khoang chứa nước của cơ thể, chẳng hạn như khoảng kẽ hoặc qua các lỗ chứa nước ở nội mô của mạch máu. Thuốc liên kết với Albumin hoặc các protein huyết tương lớn khác không thể thấm vào hầu hết các lỗ chứa nước. Mặt khác, sự khuếch tán lipid xảy ra qua khoang lipid của cơ thể. Do đó, nó được coi là yếu tố quan trọng nhất đối với tính thấm của thuốc do có nhiều hàng rào lipid ngăn cách các ngăn của cơ thể hơn. Hệ số lipid-nước của thuốc có thể được sử dụng để xác định tốc độ di chuyển của thuốc giữa môi trường lipid và nước. [2]

Khi uống thuốc, thuốc chỉ lưu lại ở khoang miệng trong một thời gian rất ngắn rồi chuyển nhanh xuống dạ dày, do đó thuốc hầu như không có sự hấp thu ở đây. Tuy nhiên nhiều loại thuốc như viên ngậm, viên đặt dưới lưỡi thì sẽ được hấp thu qua niêm mạc miệng. Tại đây có nhiều mạch máu nên thuốc được hấp thu qua niêm mạc miệng sẽ trực tiếp đi vào hệ tuần hoàn, không qua gan, do đó tránh được chuyển hóa lần đầu qua gan và nguy cơ bị dịch tiêu hóa phân hủy.
Một số thuốc đặt dưới lưỡi như:
Sự hấp thu thuốc ở dạ dày thường đóng vai trò thứ yếu trong tổng sự hấp thu của một liều thuốc, bởi hệ thống mao mạch ở dạ dày ít hơn nhiều so với ruột non, pH dịch dạ dày lại rất thấp, lưu lượng máu tưới tới dạ dày ít hơn và thời gian lưu thuốc ở dạ dày không dài. Do đó, chỉ có các thuốc có bản chất là acid yếu (thuốc ngủ barbituric, salicylat), các thuốc có hệ số phân bố lipid/nước cao mới được hấp thu qua niêm mạc dạ dày
Một số thuốc gây kích ứng hoặc bị ảnh hưởng bởi dịch acid dạ dày nên có dạng bào chế tan ở ruột non như: Aspirin pH8.
Thuốc được hấp thu tốt nhất ở niêm mạc ruột non nhờ các yếu tố sau:
Tuy nhiên, sự hiện diện của các yếu tố chẳng hạn như chất nhầy, chất vận chuyển, sẽ hạn chế sự hấp thu của một số loại thuốc.
Sự hấp thu thuốc qua niêm mạc ruột già kém hơn so với niêm mạc ruột non do các yếu tố sau:
Tuy nhiên ở trực tràng (phần cuối của ruột già) lại có khả năng hấp thu thuốc tốt hơn vì có hệ tĩnh mạch phong phú. Hấp thu thuốc qua trực tràng tương đối tốt do có ưu điểm như: Thuốc nhanh chóng đạt nồng độ cao trong máu, tránh được sự phân hủy thuốc bởi dịch tiêu hóa, phù hợp với những bệnh nhân không sử dụng được thuốc đường uống, tuy nhiên thuốc có thể hấp thu không hoàn toàn và có thể gây kích ứng niêm mạc hậu môn.
Mặc dù Sinh khả dụng của thuốc dùng đường tiêu hóa rất phức tạp và thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, nhưng nó thuận tiện hơn cho nhiều bệnh nhân. Đây là đường dùng phổ biến nhất được sử dụng cho hầu hết các loại thuốc.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa như sau:
Khi sử dụng đường tiêm, thuốc có thể được hấp thu tại nhiều vị trí khác nhau tùy theo vị trí tiêm. Có các đường tiêm cơ bản là tiêm dưới da, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch.

Tiêm dưới da có ký hiệu là SC (Subcutaneous injection), là phương pháp đưa thuốc hoặc vắc xin vào tổ chức mô liên kết dưới da của bệnh nhân. Vì mô dưới da có ít mạch máu nên thuốc tiêm được khuếch tán rất chậm với tốc độ hấp thu ổn định. Do đó, nó có hiệu quả cao trong việc kiểm soát lượng thuốc đưa vào cơ thể như vắc xin, hormone tăng trưởng và insulin, những chất cần được cung cấp liên tục với liều lượng thấp. Đối với một số loại thuốc giảm đau, chẳng hạn như morphine, hydromorphone và thuốc dị ứng, tiêm mô dưới da là cũng là lựa chọn ưu tiên.
Phương pháp này có ưu điểm là bệnh nhân có thể tự thực hiện được tại nhà khi sử dụng một số thuốc mà đã được bác sĩ hướng dẫn cách sử dụng như insulin, có thể tiêm tại các vị trí khác nhau. Tuy nhiên khi tiêm dưới da, người sử dụng cần tuân thủ tốt khâu vệ sinh để đảm bảo hiệu quả, tránh gây ra các biến chứng như nhiễm trùng. Ngoài ra nó không thể cung cấp đủ lượng thuốc như tiêm vào tĩnh mạch trong trường hợp cần sử dụng một lượng lớn thuốc một lần.
Đối với những người bị tiểu đường, khi sử dụng Insulin cần phải chú ý đến việc kiểm tra đường huyết cũng như chất lượng insulin để tránh tình trạng đường huyết thấp hoặc cao.
Vacxin thường được sử dụng tiêm dưới da trong nhiều chương trình tiêm chủng để phòng ngừa các bệnh lý, ví dụ như tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh viêm gan B, bệnh sởi, quai bị và bệnh Rubella. Đây là phương pháp giúp tăng đáng kể khả năng miễn dịch của cơ thể và giảm thiểu nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm.
Ngoài ra, tiêm dưới da cũng được sử dụng trong quá trình kích thích buồng trứng để thực hiện hỗ trợ sinh sản.
Tiêm bắp kí hiệu là IM (Intramuscular injection), là phương pháp đưa thuốc vào sâu trong các cơ được chọn lọc cụ thể. Các cơ có hệ thống mạch máu tốt, do đó thuốc được tiêm nhanh chóng đi vào hệ tuần hoàn và sau đó đi vào vùng tác dụng cụ thể, không bị chuyển hóa lần đầu qua gan. [4]
Các loại thuốc phổ biến nhất được cung cấp theo đường IM bao gồm:
Tuy nhiên đối với các thuốc gây hoại tử cho cơ, mô như Ouabain, Calci Clorua,…tiêm bắp không được áp dụng.
Các vị trí có thể tiêm bắp là:
Tiêm tĩnh mạch kí hiệu là IV (Intravenous injection) là phương pháp đưa thẳng thuốc vào máu thông qua đường tĩnh mạch ngoại biên nên thuốc hấp thu hoàn toàn, sinh khả dụng là 100%. Đường tiêm tĩnh mạch được chỉ định trong trường hợp:
Tuy nhiên chống chỉ định tiêm tĩnh mạch với các thuốc sau:
Tuy tiêm tĩnh mạch có sinh khả dụng cao (100%), thường được dùng trong các trường hợp cấp cứu, tuy nhiên nếu tiêm nhanh có thể tạo ra nồng độ thuốc cao đột ngột, gây trụy tim, hạ huyết áp, thậm chí có thể tử vong.
Hấp thu thuốc qua đường hô hấp là quá trình thuốc đi qua phổi. Do phổi là cơ quan được cấu tạo từ các ống dẫn khí (các phế quản và tiểu phế quản) và các phế nang với hệ thống mạng mao mạch phong phú. Đặc biệt bề mặt tiếp xúc của các phế nang rất lớn (70- 100m) nên thuận lợi cho việc trao đổi khí và hấp thu thuốc.
Phương pháp này cho phép hấp thụ nhanh chóng thuốc ở dạng khí, dạng bay hơi hoặc dạng khí dung. Ngoài ra nó đưa thuốc trực tiếp đến vị trí tác dụng, không bị chuyển hóa lần đầu qua gan, do đó có thể nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu phơi nhiễm toàn thân. Tuy nhiên nó cũng tồn tại một số hạn chế như khó kiểm soát liều lượng hoặc gây kích ứng cho niêm mạc mũi, phản ứng dị ứng. Drug routes of administration and their uses
Dạng bào chế phổ biến là dạng phun mù (aerosol), chủ yếu được dùng qua đường hô hấp để phòng ngừa và điều trị bệnh hô hấp: viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản, COPD. Một số loại thuốc phun mù có trên thị trường như: thuốc phun mù Salbutamol (Ventolin), thuốc phun mù giảm đau chống viêm Methyl Salicylate (loại thuốc gây tê tại chỗ ngoài da)
Xem thêm về dạng thuốc phun mù tại: Thuốc phun mù là gì? Nguyên tắc sản xuất thuốc phun mù

Quá trình thuốc được hấp thu qua da sẽ đi từ lớp biểu bì, sau đó đến khớp nối trung bì – biểu bì. Tại đây, hoạt chất sẽ theo mạch máu vận chuyển đến hệ tuần hoàn.
Sự thẩm thấu và hấp thu thuốc qua da có thể diễn ra theo các cách khác nhau, bao gồm thẩm thấu qua khe giữa các tế bào (intercellular), thẩm thấu trực tiếp qua tế bào biểu bì (transcellular), và thẩm thấu qua các bộ phận phụ như lỗ chân lông, tuyến mồ hôi, và tuyến bã nhờn (transappendageal). Các cách thẩm thấu này đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển chất qua da và có thể ảnh hưởng đến sự hấp thụ và phân phối của thuốc.

Một số dạng bào chế được dùng qua da như kem, dầu, thuốc mỡ, nhũ tương.
Hấp thu thuốc qua da có thể có tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân và có thể gây độc cho người sử dụng nên phải chú ý, thận trọng khi dùng thuốc như:
Thông thường người ta dùng thuốc bôi ngoài da với mục đích tác dụng tại chỗ. Khả năng hấp thu của da nguyên vẹn (không bị tổn thương) kém hơn nhiều so với niêm mạc.
Lớp biểu bì bị sừng hoá chính là “hàng rào” hạn chế sự hấp thu thuốc của da. Lớp biểu bì này không có hệ thống mao mạch và chứa một hàm lượng nước rất thấp (khoảng 10%) do đó hầu như thuốc không được hấp thu ở đây mà chỉ có một lượng không đáng kể đi qua da để rồi tiếp tục được hấp thu. Khi bị tổn thương mất lớp “hàng rào” bảo vệ khả năng hấp thu của da tăng lên rất nhiều, do đó da dễ bị kích ứng khi sử dụng thuốc hơn.
Đối với đối tượng trẻ em, lớp biểu bì bị sừng hoá chưa phát triển, do đó thận trọng khi sử dụng thuốc bôi ngoài da cho trẻ.
Ngoài việc dùng thuốc bôi trên da với tác dụng tại chỗ, ngày nay người ta đã dùng thuốc trên da với tác dụng toàn thân dưới dạng miếng dán (patch). Các miếng dán thuốc có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như thuốc giảm đau, hạ sốt hoặc thuốc trị mụn.

Ngoài các đường dùng trên, thuốc còn có thể được sử dụng theo những đường khác như qua mắt (thuốc nhỏ mắt), qua bộ phận sinh dục (viêm đặt âm đạo), gây tê tủy sống,…
Do đó, tùy thuộc vào bộ phận cũng như mục tiêu điều trị, bệnh nhân phải được chỉ định sử dụng thuốc với dạng đường dùng thuốc đúng đắn để đạt được kết quả điều trị an toàn và hiệu quả.
Hấp thu thuốc là quá trình đầu tiên xảy ra khi thuốc được đưa vào cơ thể. Nó có thể được thực hiện bởi nhiều con đường đưa thuốc khác nhau. Vậy quá trình đưa thuốc vào cơ thể như thế nào? Hãy cùng Trung Tâm Thuốc Central Pharmacy tìm hiểu qua bài viết sau.
Hấp thu thuốc là quá trình cơ thể tiếp nhận và hấp thu các dược phẩm hoặc chất hoá học từ ngoài vào bên trong cơ thể thông qua các con đường khác nhau. Quá trình hấp thu này giúp chất hoá học hoặc dược phẩm hoạt động trong cơ thể, điều trị bệnh, hoặc có tác dụng khác tùy thuốc và mục đích sử dụng. Quá trình hấp thu thuốc có thể được thực hiện qua các con đường như đường tiêu hóa, đường tiêm, đường hô hấp, đường qua da. [1]
Thuốc được hấp thu qua đường tiêu hóa có thể bằng nhiều cơ chế khác nhau. Tuy nhiên cơ chế hấp thu thuốc phổ biến nhất là khuếch tán thụ động. Quá trình này có thể được giải thích thông qua định luật khuếch tán Fick, trong đó phân tử thuốc di chuyển theo gradient nồng độ từ nồng độ thuốc cao hơn đến nồng độ thấp hơn cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng. Khuếch tán thụ động có thể xảy ra trong môi trường nước hoặc môi trường lipid. Sự khuếch tán nước xảy ra trong khoang chứa nước của cơ thể, chẳng hạn như khoảng kẽ hoặc qua các lỗ chứa nước ở nội mô của mạch máu. Thuốc liên kết với Albumin hoặc các protein huyết tương lớn khác không thể thấm vào hầu hết các lỗ chứa nước. Mặt khác, sự khuếch tán lipid xảy ra qua khoang lipid của cơ thể. Do đó, nó được coi là yếu tố quan trọng nhất đối với tính thấm của thuốc do có nhiều hàng rào lipid ngăn cách các ngăn của cơ thể hơn. Hệ số lipid-nước của thuốc có thể được sử dụng để xác định tốc độ di chuyển của thuốc giữa môi trường lipid và nước. [2]

Khi uống thuốc, thuốc chỉ lưu lại ở khoang miệng trong một thời gian rất ngắn rồi chuyển nhanh xuống dạ dày, do đó thuốc hầu như không có sự hấp thu ở đây. Tuy nhiên nhiều loại thuốc như viên ngậm, viên đặt dưới lưỡi thì sẽ được hấp thu qua niêm mạc miệng. Tại đây có nhiều mạch máu nên thuốc được hấp thu qua niêm mạc miệng sẽ trực tiếp đi vào hệ tuần hoàn, không qua gan, do đó tránh được chuyển hóa lần đầu qua gan và nguy cơ bị dịch tiêu hóa phân hủy.
Một số thuốc đặt dưới lưỡi như:
Sự hấp thu thuốc ở dạ dày thường đóng vai trò thứ yếu trong tổng sự hấp thu của một liều thuốc, bởi hệ thống mao mạch ở dạ dày ít hơn nhiều so với ruột non, pH dịch dạ dày lại rất thấp, lưu lượng máu tưới tới dạ dày ít hơn và thời gian lưu thuốc ở dạ dày không dài. Do đó, chỉ có các thuốc có bản chất là acid yếu (thuốc ngủ barbituric, salicylat), các thuốc có hệ số phân bố lipid/nước cao mới được hấp thu qua niêm mạc dạ dày
Một số thuốc gây kích ứng hoặc bị ảnh hưởng bởi dịch acid dạ dày nên có dạng bào chế tan ở ruột non như: Aspirin pH8.
Thuốc được hấp thu tốt nhất ở niêm mạc ruột non nhờ các yếu tố sau:
Tuy nhiên, sự hiện diện của các yếu tố chẳng hạn như chất nhầy, chất vận chuyển, sẽ hạn chế sự hấp thu của một số loại thuốc.
Sự hấp thu thuốc qua niêm mạc ruột già kém hơn so với niêm mạc ruột non do các yếu tố sau:
Tuy nhiên ở trực tràng (phần cuối của ruột già) lại có khả năng hấp thu thuốc tốt hơn vì có hệ tĩnh mạch phong phú. Hấp thu thuốc qua trực tràng tương đối tốt do có ưu điểm như: Thuốc nhanh chóng đạt nồng độ cao trong máu, tránh được sự phân hủy thuốc bởi dịch tiêu hóa, phù hợp với những bệnh nhân không sử dụng được thuốc đường uống, tuy nhiên thuốc có thể hấp thu không hoàn toàn và có thể gây kích ứng niêm mạc hậu môn.
Mặc dù Sinh khả dụng của thuốc dùng đường tiêu hóa rất phức tạp và thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, nhưng nó thuận tiện hơn cho nhiều bệnh nhân. Đây là đường dùng phổ biến nhất được sử dụng cho hầu hết các loại thuốc.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa như sau:
Khi sử dụng đường tiêm, thuốc có thể được hấp thu tại nhiều vị trí khác nhau tùy theo vị trí tiêm. Có các đường tiêm cơ bản là tiêm dưới da, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch.

Tiêm dưới da có ký hiệu là SC (Subcutaneous injection), là phương pháp đưa thuốc hoặc vắc xin vào tổ chức mô liên kết dưới da của bệnh nhân. Vì mô dưới da có ít mạch máu nên thuốc tiêm được khuếch tán rất chậm với tốc độ hấp thu ổn định. Do đó, nó có hiệu quả cao trong việc kiểm soát lượng thuốc đưa vào cơ thể như vắc xin, hormone tăng trưởng và insulin, những chất cần được cung cấp liên tục với liều lượng thấp. Đối với một số loại thuốc giảm đau, chẳng hạn như morphine, hydromorphone và thuốc dị ứng, tiêm mô dưới da là cũng là lựa chọn ưu tiên.
Phương pháp này có ưu điểm là bệnh nhân có thể tự thực hiện được tại nhà khi sử dụng một số thuốc mà đã được bác sĩ hướng dẫn cách sử dụng như insulin, có thể tiêm tại các vị trí khác nhau. Tuy nhiên khi tiêm dưới da, người sử dụng cần tuân thủ tốt khâu vệ sinh để đảm bảo hiệu quả, tránh gây ra các biến chứng như nhiễm trùng. Ngoài ra nó không thể cung cấp đủ lượng thuốc như tiêm vào tĩnh mạch trong trường hợp cần sử dụng một lượng lớn thuốc một lần.
Đối với những người bị tiểu đường, khi sử dụng Insulin cần phải chú ý đến việc kiểm tra đường huyết cũng như chất lượng insulin để tránh tình trạng đường huyết thấp hoặc cao.
Vacxin thường được sử dụng tiêm dưới da trong nhiều chương trình tiêm chủng để phòng ngừa các bệnh lý, ví dụ như tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh viêm gan B, bệnh sởi, quai bị và bệnh Rubella. Đây là phương pháp giúp tăng đáng kể khả năng miễn dịch của cơ thể và giảm thiểu nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm.
Ngoài ra, tiêm dưới da cũng được sử dụng trong quá trình kích thích buồng trứng để thực hiện hỗ trợ sinh sản.
Tiêm bắp kí hiệu là IM (Intramuscular injection), là phương pháp đưa thuốc vào sâu trong các cơ được chọn lọc cụ thể. Các cơ có hệ thống mạch máu tốt, do đó thuốc được tiêm nhanh chóng đi vào hệ tuần hoàn và sau đó đi vào vùng tác dụng cụ thể, không bị chuyển hóa lần đầu qua gan. [4]
Các loại thuốc phổ biến nhất được cung cấp theo đường IM bao gồm:
Tuy nhiên đối với các thuốc gây hoại tử cho cơ, mô như Ouabain, Calci Clorua,…tiêm bắp không được áp dụng.
Các vị trí có thể tiêm bắp là:
Tiêm tĩnh mạch kí hiệu là IV (Intravenous injection) là phương pháp đưa thẳng thuốc vào máu thông qua đường tĩnh mạch ngoại biên nên thuốc hấp thu hoàn toàn, sinh khả dụng là 100%. Đường tiêm tĩnh mạch được chỉ định trong trường hợp:
Tuy nhiên chống chỉ định tiêm tĩnh mạch với các thuốc sau:
Tuy tiêm tĩnh mạch có sinh khả dụng cao (100%), thường được dùng trong các trường hợp cấp cứu, tuy nhiên nếu tiêm nhanh có thể tạo ra nồng độ thuốc cao đột ngột, gây trụy tim, hạ huyết áp, thậm chí có thể tử vong.
Hấp thu thuốc qua đường hô hấp là quá trình thuốc đi qua phổi. Do phổi là cơ quan được cấu tạo từ các ống dẫn khí (các phế quản và tiểu phế quản) và các phế nang với hệ thống mạng mao mạch phong phú. Đặc biệt bề mặt tiếp xúc của các phế nang rất lớn (70- 100m) nên thuận lợi cho việc trao đổi khí và hấp thu thuốc.
Phương pháp này cho phép hấp thụ nhanh chóng thuốc ở dạng khí, dạng bay hơi hoặc dạng khí dung. Ngoài ra nó đưa thuốc trực tiếp đến vị trí tác dụng, không bị chuyển hóa lần đầu qua gan, do đó có thể nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu phơi nhiễm toàn thân. Tuy nhiên nó cũng tồn tại một số hạn chế như khó kiểm soát liều lượng hoặc gây kích ứng cho niêm mạc mũi, phản ứng dị ứng. Drug routes of administration and their uses
Dạng bào chế phổ biến là dạng phun mù (aerosol), chủ yếu được dùng qua đường hô hấp để phòng ngừa và điều trị bệnh hô hấp: viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản, COPD. Một số loại thuốc phun mù có trên thị trường như: thuốc phun mù Salbutamol (Ventolin), thuốc phun mù giảm đau chống viêm Methyl Salicylate (loại thuốc gây tê tại chỗ ngoài da)
Xem thêm về dạng thuốc phun mù tại: Thuốc phun mù là gì? Nguyên tắc sản xuất thuốc phun mù

Quá trình thuốc được hấp thu qua da sẽ đi từ lớp biểu bì, sau đó đến khớp nối trung bì – biểu bì. Tại đây, hoạt chất sẽ theo mạch máu vận chuyển đến hệ tuần hoàn.
Sự thẩm thấu và hấp thu thuốc qua da có thể diễn ra theo các cách khác nhau, bao gồm thẩm thấu qua khe giữa các tế bào (intercellular), thẩm thấu trực tiếp qua tế bào biểu bì (transcellular), và thẩm thấu qua các bộ phận phụ như lỗ chân lông, tuyến mồ hôi, và tuyến bã nhờn (transappendageal). Các cách thẩm thấu này đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển chất qua da và có thể ảnh hưởng đến sự hấp thụ và phân phối của thuốc.

Một số dạng bào chế được dùng qua da như kem, dầu, thuốc mỡ, nhũ tương.
Hấp thu thuốc qua da có thể có tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân và có thể gây độc cho người sử dụng nên phải chú ý, thận trọng khi dùng thuốc như:
Thông thường người ta dùng thuốc bôi ngoài da với mục đích tác dụng tại chỗ. Khả năng hấp thu của da nguyên vẹn (không bị tổn thương) kém hơn nhiều so với niêm mạc.
Lớp biểu bì bị sừng hoá chính là “hàng rào” hạn chế sự hấp thu thuốc của da. Lớp biểu bì này không có hệ thống mao mạch và chứa một hàm lượng nước rất thấp (khoảng 10%) do đó hầu như thuốc không được hấp thu ở đây mà chỉ có một lượng không đáng kể đi qua da để rồi tiếp tục được hấp thu. Khi bị tổn thương mất lớp “hàng rào” bảo vệ khả năng hấp thu của da tăng lên rất nhiều, do đó da dễ bị kích ứng khi sử dụng thuốc hơn.
Đối với đối tượng trẻ em, lớp biểu bì bị sừng hoá chưa phát triển, do đó thận trọng khi sử dụng thuốc bôi ngoài da cho trẻ.
Ngoài việc dùng thuốc bôi trên da với tác dụng tại chỗ, ngày nay người ta đã dùng thuốc trên da với tác dụng toàn thân dưới dạng miếng dán (patch). Các miếng dán thuốc có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như thuốc giảm đau, hạ sốt hoặc thuốc trị mụn.

Ngoài các đường dùng trên, thuốc còn có thể được sử dụng theo những đường khác như qua mắt (thuốc nhỏ mắt), qua bộ phận sinh dục (viêm đặt âm đạo), gây tê tủy sống,…
Do đó, tùy thuộc vào bộ phận cũng như mục tiêu điều trị, bệnh nhân phải được chỉ định sử dụng thuốc với dạng đường dùng thuốc đúng đắn để đạt được kết quả điều trị an toàn và hiệu quả.
(162)
(3)
(0)
(0)
(0)
(24)
(4469)
(2)