Thư viện số CYQ » Tài liệu Thư viện số » Chứng Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế: Khi Nỗi Sợ Hãi Trở Thành Ám Ảnh
(162)
(3)
(0)
(0)
(0)
(24)
(4469)
(2)
Bạn có bao giờ thắc mắc về những suy nghĩ vô lý hay nỗi lo sợ liên tục xuất hiện trong đầu? Chẳng hạn như sợ hãi bụi bẩn, nỗi ám ảnh về bạo lực hoặc ám ảnh về sự hoàn hảo. Liệu những suy nghĩ đó có phải là dấu hiệu của hội chứng Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) không? Trong bài viết này, xin gửi đến bạn đọc những thông tin chi tiết về chứng Rối loạn ám ảnh cưỡng chế
Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là tình trạng rối loạn sức khỏe tâm thần mãn tính và cuốn người bệnh vào chu kỳ ám ảnh và cưỡng chế. OCD có thể ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp trong xã hội. Theo các nghiên cứu, rối loạn ám ảnh cưỡng chế thường bắt đầu ở độ tuổi trung bình là 19-20 tuổi, và ít gặp hơn ở những người dưới 10 tuổi (21%).
Cụ thể, tác động của hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế diễn ra theo 2 giai đoạn:
Khi tiếp nhận một vấn đề hoặc trạng thái nào đó, người bị OCD bắt đầu nảy sinh những nỗi ám ảnh. Đó là những suy nghĩ, ý tưởng, sự ám ảnh lặp đi lặp lại trong đầu. Mặc dù một số người mắc OCD cho biết, họ không muốn những suy nghĩ đó xuất hiện và hiểu rằng những ý tưởng đó là vô lý, nhưng người bệnh không thể kiểm soát hay kìm hãm chúng.
Nỗi ám ảnh thường đi kèm với những cảm giác mãnh liệt và khó chịu như: sợ hãi, ghê tởm, hoài nghi, hoặc suy nghĩ rằng mọi việc phải được thực hiện theo các hoàn hảo nhất. Những suy nghĩ vô lý đó mãnh liệt tới mức có thể tiêu tốn thời gian hoặc cản trở các hoạt động hàng ngày của người mắc bệnh.

Cần lưu ý rằng, hầu hết chúng ta đều có những nỗi ám ảnh nhất định về những vấn đề nhất định. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh thông thường này không giống với nỗi ám ảnh của hội chứng OCD. Thông thường, chúng ta nói về nỗi ám ảnh có nghĩa là ai đó đang bận tâm (hoặc bức xúc) về một chủ đề, ý tưởng hoặc một người nào đó. Nhưng, nó liên quan nhiều đến quan điểm sống hơn và có thể hiểu được theo một lối tư duy nào đó, thậm chí có thể mang đến những trải nghiệm thú vị mới mà không làm ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ. Ví dụ như, bạn có thể bị “ám ảnh” bởi một bài hát mới vừa phát hành, nhưng bạn vẫn có thể cùng bạn bè ăn tối tại nhà hàng khi họ đang bật bài hát đó, bạn vẫn có thể đi làm bình thường trong bất chấp nỗi “ám ảnh” này.
Một ví dụ khác để phân biệt OCD với những nỗi “ám ảnh” hàng ngày là khi một người có thể suy nghĩ về dịch bệnh và lo lắng cho sự an toàn của bản thân hoặc suy nghĩ về sai lầm mà họ mắc phải có thể trở nên nghiêm trọng. Về cơ bản những suy nghĩ này tương tự như những gì mà 1 người bị OCD có thể cảm thấy. Nhưng ở người bình thường những suy nghĩ này chỉ là tạm thời còn đối với người mắc OCD, những suy nghĩ này xuất hiện thường xuyên với cường độ mạnh trở thành rối loạn ám ảnh suy nghĩ ép buộc.
Các nỗi ám ảnh phổ biến và điển hình trong hội chứng OCD bao gồm:
Cưỡng chế trong OCD là những hành vi hoặc suy nghĩ lặp đi lặp lại mà một người cảm thấy bị thôi thúc phải thực hiện để đáp lại hoặc làm cho nỗi ám ảnh của họ biến mất. Những người mắc OCD nhận ra rằng, đây chỉ là một giải pháp tạm thời, nhưng không có cách nào tốt hơn để đối phó với cảm giác ám ảnh đó. Và nhiều khả năng, người bị OCD sẽ lặp lại những điều tương tự trong tương lai.
Biểu hiện của sự cưỡng chế có thể là những phản ứng thái quá liên quan trực tiếp đến sự ám ảnh (chẳng hạn như việc rửa tay quá nhiều do sợ nhiễm bẩn) nhưng cũng có thể là hành động hoàn toàn không liên quan đến nỗi ám ảnh.

Cũng giống như nỗi ám ảnh, không phải tất cả các hành vi hoặc thói quen lặp đi lặp lại đều là biểu hiện của sự cưỡng chế. Điều này còn phụ thuộc vào loại hình và bối cảnh thực hiện hành vi. Ví dụ như: thói quen đi ngủ, thực hành tôn giáo và học một kỹ năng mới, tất cả đều liên quan đến việc lặp đi lặp lại một hoạt động ở một mức độ nào đó, nhưng thường là một phần tích cực và thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. Tương tự như vậy, việc sắp xếp các cuốn sách ngăn nắp liên tục trong nhiều giờ không phải là sự cưỡng chế nếu người đó làm việc trong thư viện. Những hành vi như vậy không phải là triệu chứng của OCD.
Trong hầu hết các trường hợp, những người mắc chứng OCD cảm thấy như đang có thứ gì đó thôi thúc họ phải thực hiện các hành vi cưỡng chế. Trong trường hợp nghiêm trọng, việc lặp lại lặp lại một hành động/ thói quen trong thời gian dài có thể khiến chúng trở nên bất thường. Thay vì là một nguồn vui, những người mắc chứng OCD thực hiện các hành vi cưỡng chế vì họ tin rằng những hành động đó là cần thiết để ngăn chặn những hậu quả tiêu cực và/ hoặc để thoát khỏi nỗi ám ảnh. [1]
Những biểu hiện của sự cưỡng chế phổ biến trong hội chứng OCD:

Những hành vi này có thể gây ra nhiều bất lợi và cản trở cuộc sống hằng ngày của người bệnh. Ngoài ra, một số hành vi quá mức có thể làm hại đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người mắc chứng OCD.
Bệnh OCD thường khởi phát ở tuổi thanh thiếu niên, nhưng nó cũng có thể bắt đầu ngay từ thời thơ ấu. Các triệu chứng của bệnh OCD rất đa dạng và mức độ nghiêm trọng cũng khác nhau. Ví dụ như người bị OCD với nỗi sợ hãi về việc bị nhiễm bẩn, để giảm bớt sự ám ảnh đó, họ bắt buộc phải rửa tay nhiều lần cho đến khi tay bị sưng hoặc nứt nẻ. Nhưng người bị OCD cũng có thể thực hiện các hành vi gây nguy hiểm đến sức khỏe khác, hậu quả có thể dẫn đến tàn tật.
Những người mắc OCD có thể cố gắng tự khắc phục bằng các tránh những tình huống hoặc yếu tố làm khởi phát nỗi ám ảnh của họ. Tuy nhiên, đa phần các trường hợp, người bệnh tìm đến việc sử dụng rượu hoặc ma túy để trấn an tinh thần.
Các triệu chứng ban đầu thường không gây nguy hiểm nhưng chúng có xu hướng trở nên nghiêm trọng hơn theo thời gian. Ngoài ra, các triệu chúng có thể tồi tệ hơn khi người bệnh trở nên căng thẳng hoặc gặp stress. Nhìn chung, rối loạn ám ảnh cưỡng chế được coi là một hội chứng mãn tính và kéo dài suốt đời.
OCD là một trong những rối loạn tâm thần kinh phổ biến làm ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi trên thế giới. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán vào khoảng năm 19 tuổi, nhưng cũng có một số trường hợp được ghi nhận ở trẻ dưới 10 tuổi hoặc ở người lớn trên 35 tuổi. Tuy nhiên, nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng OCD vẫn chưa được biết rõ. Hiện nay, người ta đã xác định được một số yếu tố nguy cơ góp phần vào việc hình thành các rối loạn ám ảnh cưỡng chế:
Kết quả của các nghiên cứu về gia đình và trẻ song sinh đã chỉ ra rằng, OCD có liên quan đến di truyền. Cụ thể, nếu cha mẹ, anh chị em hoặc con cái của bạn bị OCD, bạn có nguy cơ mắc OCD cao hơn.
Nguy cơ này càng rõ ràng hơn nếu người thân cấp 1 của bạn được chẩn đoán mắc OCD từ khi còn nhỏ hoặc ở độ tuổi thiếu niên.
Các nhà nghiên cứu hình ảnh đã chỉ ra sự khác biệt trong cấu trúc vỏ não ở bệnh nhân mắc OCD. Dường như có mối liên hệ giữa các triệu chứng OCD và những bất thường ở một số khu vực nhất định của não, nhưng mối liên hệ đó không rõ ràng. Cần nhiều nghiên cứu và bằng chứng hơn nữa để biết được chính xác mối liên hệ này.

Mối liên quan giữa những ký ức về sự tổn thương ở thời thơ ấu và các triệu chứng ám ảnh cưỡng chế đã được báo cáo trong một số nghiên cứu. Tuy nhiên vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để khẳng định điều này.
Trong một số trường hợp, trẻ em có thể phát triển các triệu chứng OCD hoặc mắc OCD sau khi nhiễm liên cầu khuẩn. Tình trạng này được gọi là Rối loạn tâm thần kinh tự miễn dịch ở trẻ em liên quan đến nhiễm trùng liên cầu khuẩn.
Các hội chứng rối loạn tâm thần kinh khác có thể dẫn đến sự hình thành của các triệu chứng OCD. Chẳng hạn như chứng rối loạn biến dạng cơ thể (cảm thấy xấu hổ quá mức về những khiếm khuyết về ngoại hình), chứng rối loạn giật tóc (liên tục giật tóc của chính mình) hay chứng rối loạn Excoriation (liên tục tự cào vào da của chính mình),… [2]
Nếu được điều trị sớm và tích cực, người bệnh mắc OCD có thể có chất lượng cuộc sống tốt hơn và cải thiện các chức năng của cơ thể.
Một phương pháp điều trị OCD hiệu quả là liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) được gọi là phòng ngừa phơi nhiễm và phản ứng (ERP). Trong các buổi điều trị, bệnh nhân được tiếp xúc với những tình huống hoặc hình ảnh đáng sợ tập trung vào nỗi ám ảnh của họ. Biện pháp này giúp họ làm quen dần với cách khống chế nỗi ám ảnh, nhưng thời gian đầu có thể khiến bệnh nhân lo lắng nhiều hơn.
Trong các buổi trị liệu, bệnh nhân được hướng dẫn để tránh thực hiện các hành vi cưỡng chế mà họ thường thực hiện. Bằng cách cho họ thấy rằng, những thứ khủng khiếp trong nỗi ám ảnh của họ thực sự không đáng sợ như vậy. Từ đó, người bệnh nhận thức được rằng, họ hoàn toàn có thể kiểm soát được suy nghĩ của mình mà không cần phải thực hiện hành vi cưỡng chế nào cả. Sự lo lắng của họ sẽ bắt đầu giảm dần theo thời gian.

Sử dụng hướng dẫn dựa trên bằng chứng, các nhà trị liệu và bệnh nhân cần trao đổi với nhau để phát triển một kế hoạch tiếp xúc dần dần, chuyển từ các tình huống lo lắng thấp hơn sang các tình huống lo lắng cao hơn. Một số người mắc chứng OCD có thể không đồng ý tham gia CBT vì cảm giác lo lắng ban đầu mà nó gây ra, nhưng đây là công cụ mạnh mẽ nhất hiện có để điều trị nhiều loại OCD từ nhẹ đến trung bình. [3]
Để hạn chế sự lo lắng hoặc sợ hãi quá mức, một số nhóm thuốc trấn an tinh thần đã được sử dụng. Điển hình là nhóm thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), thường được sử dụng để điều trị trầm cảm. Liều lượng SSRI dùng để điều trị OCD thường cao hơn liều dùng để điều trị trầm cảm.
Thông thường, phải mất từ 6-12 tuần, hoặc có thể lâu hơn, để nhận thấy được hiệu quả của thuốc. Nếu bệnh nhân không đáp ứng với một loại thuốc SSRI hãy thử đổi sang hoạt chất khác cùng nhóm.
SSRI được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân có các triệu chứng OCD nhẹ đến trung bình. Nhưng nếu bệnh nhân có các triệu chứng OCD nghiêm trọng, cách tốt nhất là kết hợp CBT và SSRI.
Gần đây, phẫu thuật là biện pháp được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận trong điều trị OCD mức độ nặng hoặc không đáp ứng với 2 phương pháp điều trị trên.
Bệnh OCD rất khó chữa và cách triệu chứng có thể kéo dài suốt đời. Vì thế, người bệnh rất cần đến sự chăm sóc của người thân để giúp họ vượt qua được nỗi ám ảnh. rên thực tế, sự tham gia của gia đình và bạn bè là yếu tố quan trọng trong thành công của việc điều trị.
Duy trì lối sống lành mạnh có thể giảm bớt sự lo lắng hoặc ám ảnh của người mắc OCD. Ngủ đủ giấc, ăn uống lành mạnh, tập thể dục và dành thời gian cho người khác có thể giúp ích cho sức khỏe tinh thần tổng thể. Ngoài ra, sử dụng các kỹ thuật thư giãn cơ bản như thiền, yoga, hình dung và xoa bóp có thể giúp giảm bớt căng thẳng và lo lắng.
Khi nhận thấy người mắc OCD bắt đầu trở nên lo lắng, sợ hãi hoặc cố gắng thực hiện một điều gì đó nhiều lần, hãy cố gắng trấn an tinh thần của họ. Bật một bản nhạc mà họ yêu thích, cho họ ngửi mùi hương dịu nhẹ, nói những lời yêu thương hoặc đưa họ ra khỏi vị trí hiện tại,… có thể giúp người bệnh bình tĩnh hơn. [4]
Tóm lại, rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là một hội chứng rối loạn thần kinh phức tạp và nghiêm trọng. Người bệnh luôn phải vật lộn với những nỗi ám ảnh và có thể thực hiện các hành vi gây hại cho chính bản thân mình. Vì vậy, nếu nhận thấy bản thân hoặc một người nào đó có những dấu hiệu bất thường liên quan đến chứng OCD, hãy trao đổi với bác sĩ để được kiểm tra và điều trị phù hợp.
Bạn có bao giờ thắc mắc về những suy nghĩ vô lý hay nỗi lo sợ liên tục xuất hiện trong đầu? Chẳng hạn như sợ hãi bụi bẩn, nỗi ám ảnh về bạo lực hoặc ám ảnh về sự hoàn hảo. Liệu những suy nghĩ đó có phải là dấu hiệu của hội chứng Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) không? Trong bài viết này, xin gửi đến bạn đọc những thông tin chi tiết về chứng Rối loạn ám ảnh cưỡng chế
Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là tình trạng rối loạn sức khỏe tâm thần mãn tính và cuốn người bệnh vào chu kỳ ám ảnh và cưỡng chế. OCD có thể ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp trong xã hội. Theo các nghiên cứu, rối loạn ám ảnh cưỡng chế thường bắt đầu ở độ tuổi trung bình là 19-20 tuổi, và ít gặp hơn ở những người dưới 10 tuổi (21%).
Cụ thể, tác động của hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế diễn ra theo 2 giai đoạn:
Khi tiếp nhận một vấn đề hoặc trạng thái nào đó, người bị OCD bắt đầu nảy sinh những nỗi ám ảnh. Đó là những suy nghĩ, ý tưởng, sự ám ảnh lặp đi lặp lại trong đầu. Mặc dù một số người mắc OCD cho biết, họ không muốn những suy nghĩ đó xuất hiện và hiểu rằng những ý tưởng đó là vô lý, nhưng người bệnh không thể kiểm soát hay kìm hãm chúng.
Nỗi ám ảnh thường đi kèm với những cảm giác mãnh liệt và khó chịu như: sợ hãi, ghê tởm, hoài nghi, hoặc suy nghĩ rằng mọi việc phải được thực hiện theo các hoàn hảo nhất. Những suy nghĩ vô lý đó mãnh liệt tới mức có thể tiêu tốn thời gian hoặc cản trở các hoạt động hàng ngày của người mắc bệnh.

Cần lưu ý rằng, hầu hết chúng ta đều có những nỗi ám ảnh nhất định về những vấn đề nhất định. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh thông thường này không giống với nỗi ám ảnh của hội chứng OCD. Thông thường, chúng ta nói về nỗi ám ảnh có nghĩa là ai đó đang bận tâm (hoặc bức xúc) về một chủ đề, ý tưởng hoặc một người nào đó. Nhưng, nó liên quan nhiều đến quan điểm sống hơn và có thể hiểu được theo một lối tư duy nào đó, thậm chí có thể mang đến những trải nghiệm thú vị mới mà không làm ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ. Ví dụ như, bạn có thể bị “ám ảnh” bởi một bài hát mới vừa phát hành, nhưng bạn vẫn có thể cùng bạn bè ăn tối tại nhà hàng khi họ đang bật bài hát đó, bạn vẫn có thể đi làm bình thường trong bất chấp nỗi “ám ảnh” này.
Một ví dụ khác để phân biệt OCD với những nỗi “ám ảnh” hàng ngày là khi một người có thể suy nghĩ về dịch bệnh và lo lắng cho sự an toàn của bản thân hoặc suy nghĩ về sai lầm mà họ mắc phải có thể trở nên nghiêm trọng. Về cơ bản những suy nghĩ này tương tự như những gì mà 1 người bị OCD có thể cảm thấy. Nhưng ở người bình thường những suy nghĩ này chỉ là tạm thời còn đối với người mắc OCD, những suy nghĩ này xuất hiện thường xuyên với cường độ mạnh trở thành rối loạn ám ảnh suy nghĩ ép buộc.
Các nỗi ám ảnh phổ biến và điển hình trong hội chứng OCD bao gồm:
Cưỡng chế trong OCD là những hành vi hoặc suy nghĩ lặp đi lặp lại mà một người cảm thấy bị thôi thúc phải thực hiện để đáp lại hoặc làm cho nỗi ám ảnh của họ biến mất. Những người mắc OCD nhận ra rằng, đây chỉ là một giải pháp tạm thời, nhưng không có cách nào tốt hơn để đối phó với cảm giác ám ảnh đó. Và nhiều khả năng, người bị OCD sẽ lặp lại những điều tương tự trong tương lai.
Biểu hiện của sự cưỡng chế có thể là những phản ứng thái quá liên quan trực tiếp đến sự ám ảnh (chẳng hạn như việc rửa tay quá nhiều do sợ nhiễm bẩn) nhưng cũng có thể là hành động hoàn toàn không liên quan đến nỗi ám ảnh.

Cũng giống như nỗi ám ảnh, không phải tất cả các hành vi hoặc thói quen lặp đi lặp lại đều là biểu hiện của sự cưỡng chế. Điều này còn phụ thuộc vào loại hình và bối cảnh thực hiện hành vi. Ví dụ như: thói quen đi ngủ, thực hành tôn giáo và học một kỹ năng mới, tất cả đều liên quan đến việc lặp đi lặp lại một hoạt động ở một mức độ nào đó, nhưng thường là một phần tích cực và thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. Tương tự như vậy, việc sắp xếp các cuốn sách ngăn nắp liên tục trong nhiều giờ không phải là sự cưỡng chế nếu người đó làm việc trong thư viện. Những hành vi như vậy không phải là triệu chứng của OCD.
Trong hầu hết các trường hợp, những người mắc chứng OCD cảm thấy như đang có thứ gì đó thôi thúc họ phải thực hiện các hành vi cưỡng chế. Trong trường hợp nghiêm trọng, việc lặp lại lặp lại một hành động/ thói quen trong thời gian dài có thể khiến chúng trở nên bất thường. Thay vì là một nguồn vui, những người mắc chứng OCD thực hiện các hành vi cưỡng chế vì họ tin rằng những hành động đó là cần thiết để ngăn chặn những hậu quả tiêu cực và/ hoặc để thoát khỏi nỗi ám ảnh. [1]
Những biểu hiện của sự cưỡng chế phổ biến trong hội chứng OCD:

Những hành vi này có thể gây ra nhiều bất lợi và cản trở cuộc sống hằng ngày của người bệnh. Ngoài ra, một số hành vi quá mức có thể làm hại đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người mắc chứng OCD.
Bệnh OCD thường khởi phát ở tuổi thanh thiếu niên, nhưng nó cũng có thể bắt đầu ngay từ thời thơ ấu. Các triệu chứng của bệnh OCD rất đa dạng và mức độ nghiêm trọng cũng khác nhau. Ví dụ như người bị OCD với nỗi sợ hãi về việc bị nhiễm bẩn, để giảm bớt sự ám ảnh đó, họ bắt buộc phải rửa tay nhiều lần cho đến khi tay bị sưng hoặc nứt nẻ. Nhưng người bị OCD cũng có thể thực hiện các hành vi gây nguy hiểm đến sức khỏe khác, hậu quả có thể dẫn đến tàn tật.
Những người mắc OCD có thể cố gắng tự khắc phục bằng các tránh những tình huống hoặc yếu tố làm khởi phát nỗi ám ảnh của họ. Tuy nhiên, đa phần các trường hợp, người bệnh tìm đến việc sử dụng rượu hoặc ma túy để trấn an tinh thần.
Các triệu chứng ban đầu thường không gây nguy hiểm nhưng chúng có xu hướng trở nên nghiêm trọng hơn theo thời gian. Ngoài ra, các triệu chúng có thể tồi tệ hơn khi người bệnh trở nên căng thẳng hoặc gặp stress. Nhìn chung, rối loạn ám ảnh cưỡng chế được coi là một hội chứng mãn tính và kéo dài suốt đời.
OCD là một trong những rối loạn tâm thần kinh phổ biến làm ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi trên thế giới. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán vào khoảng năm 19 tuổi, nhưng cũng có một số trường hợp được ghi nhận ở trẻ dưới 10 tuổi hoặc ở người lớn trên 35 tuổi. Tuy nhiên, nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng OCD vẫn chưa được biết rõ. Hiện nay, người ta đã xác định được một số yếu tố nguy cơ góp phần vào việc hình thành các rối loạn ám ảnh cưỡng chế:
Kết quả của các nghiên cứu về gia đình và trẻ song sinh đã chỉ ra rằng, OCD có liên quan đến di truyền. Cụ thể, nếu cha mẹ, anh chị em hoặc con cái của bạn bị OCD, bạn có nguy cơ mắc OCD cao hơn.
Nguy cơ này càng rõ ràng hơn nếu người thân cấp 1 của bạn được chẩn đoán mắc OCD từ khi còn nhỏ hoặc ở độ tuổi thiếu niên.
Các nhà nghiên cứu hình ảnh đã chỉ ra sự khác biệt trong cấu trúc vỏ não ở bệnh nhân mắc OCD. Dường như có mối liên hệ giữa các triệu chứng OCD và những bất thường ở một số khu vực nhất định của não, nhưng mối liên hệ đó không rõ ràng. Cần nhiều nghiên cứu và bằng chứng hơn nữa để biết được chính xác mối liên hệ này.

Mối liên quan giữa những ký ức về sự tổn thương ở thời thơ ấu và các triệu chứng ám ảnh cưỡng chế đã được báo cáo trong một số nghiên cứu. Tuy nhiên vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để khẳng định điều này.
Trong một số trường hợp, trẻ em có thể phát triển các triệu chứng OCD hoặc mắc OCD sau khi nhiễm liên cầu khuẩn. Tình trạng này được gọi là Rối loạn tâm thần kinh tự miễn dịch ở trẻ em liên quan đến nhiễm trùng liên cầu khuẩn.
Các hội chứng rối loạn tâm thần kinh khác có thể dẫn đến sự hình thành của các triệu chứng OCD. Chẳng hạn như chứng rối loạn biến dạng cơ thể (cảm thấy xấu hổ quá mức về những khiếm khuyết về ngoại hình), chứng rối loạn giật tóc (liên tục giật tóc của chính mình) hay chứng rối loạn Excoriation (liên tục tự cào vào da của chính mình),… [2]
Nếu được điều trị sớm và tích cực, người bệnh mắc OCD có thể có chất lượng cuộc sống tốt hơn và cải thiện các chức năng của cơ thể.
Một phương pháp điều trị OCD hiệu quả là liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) được gọi là phòng ngừa phơi nhiễm và phản ứng (ERP). Trong các buổi điều trị, bệnh nhân được tiếp xúc với những tình huống hoặc hình ảnh đáng sợ tập trung vào nỗi ám ảnh của họ. Biện pháp này giúp họ làm quen dần với cách khống chế nỗi ám ảnh, nhưng thời gian đầu có thể khiến bệnh nhân lo lắng nhiều hơn.
Trong các buổi trị liệu, bệnh nhân được hướng dẫn để tránh thực hiện các hành vi cưỡng chế mà họ thường thực hiện. Bằng cách cho họ thấy rằng, những thứ khủng khiếp trong nỗi ám ảnh của họ thực sự không đáng sợ như vậy. Từ đó, người bệnh nhận thức được rằng, họ hoàn toàn có thể kiểm soát được suy nghĩ của mình mà không cần phải thực hiện hành vi cưỡng chế nào cả. Sự lo lắng của họ sẽ bắt đầu giảm dần theo thời gian.

Sử dụng hướng dẫn dựa trên bằng chứng, các nhà trị liệu và bệnh nhân cần trao đổi với nhau để phát triển một kế hoạch tiếp xúc dần dần, chuyển từ các tình huống lo lắng thấp hơn sang các tình huống lo lắng cao hơn. Một số người mắc chứng OCD có thể không đồng ý tham gia CBT vì cảm giác lo lắng ban đầu mà nó gây ra, nhưng đây là công cụ mạnh mẽ nhất hiện có để điều trị nhiều loại OCD từ nhẹ đến trung bình. [3]
Để hạn chế sự lo lắng hoặc sợ hãi quá mức, một số nhóm thuốc trấn an tinh thần đã được sử dụng. Điển hình là nhóm thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), thường được sử dụng để điều trị trầm cảm. Liều lượng SSRI dùng để điều trị OCD thường cao hơn liều dùng để điều trị trầm cảm.
Thông thường, phải mất từ 6-12 tuần, hoặc có thể lâu hơn, để nhận thấy được hiệu quả của thuốc. Nếu bệnh nhân không đáp ứng với một loại thuốc SSRI hãy thử đổi sang hoạt chất khác cùng nhóm.
SSRI được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân có các triệu chứng OCD nhẹ đến trung bình. Nhưng nếu bệnh nhân có các triệu chứng OCD nghiêm trọng, cách tốt nhất là kết hợp CBT và SSRI.
Gần đây, phẫu thuật là biện pháp được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận trong điều trị OCD mức độ nặng hoặc không đáp ứng với 2 phương pháp điều trị trên.
Bệnh OCD rất khó chữa và cách triệu chứng có thể kéo dài suốt đời. Vì thế, người bệnh rất cần đến sự chăm sóc của người thân để giúp họ vượt qua được nỗi ám ảnh. rên thực tế, sự tham gia của gia đình và bạn bè là yếu tố quan trọng trong thành công của việc điều trị.
Duy trì lối sống lành mạnh có thể giảm bớt sự lo lắng hoặc ám ảnh của người mắc OCD. Ngủ đủ giấc, ăn uống lành mạnh, tập thể dục và dành thời gian cho người khác có thể giúp ích cho sức khỏe tinh thần tổng thể. Ngoài ra, sử dụng các kỹ thuật thư giãn cơ bản như thiền, yoga, hình dung và xoa bóp có thể giúp giảm bớt căng thẳng và lo lắng.
Khi nhận thấy người mắc OCD bắt đầu trở nên lo lắng, sợ hãi hoặc cố gắng thực hiện một điều gì đó nhiều lần, hãy cố gắng trấn an tinh thần của họ. Bật một bản nhạc mà họ yêu thích, cho họ ngửi mùi hương dịu nhẹ, nói những lời yêu thương hoặc đưa họ ra khỏi vị trí hiện tại,… có thể giúp người bệnh bình tĩnh hơn. [4]
Tóm lại, rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là một hội chứng rối loạn thần kinh phức tạp và nghiêm trọng. Người bệnh luôn phải vật lộn với những nỗi ám ảnh và có thể thực hiện các hành vi gây hại cho chính bản thân mình. Vì vậy, nếu nhận thấy bản thân hoặc một người nào đó có những dấu hiệu bất thường liên quan đến chứng OCD, hãy trao đổi với bác sĩ để được kiểm tra và điều trị phù hợp.
(162)
(3)
(0)
(0)
(0)
(24)
(4469)
(2)